""> MINH HIẾU'S BLOG

Đình Thậm và Huyền diệu sông Hàn

05:37 |

Đã lâu rồi em chưa về Đà Nẵng

Để cùng anh đón gió mát Sông Hàn

Có những chiều một mình lang thang

Nhớ Thanh Bình dập dìu cơn sóng vỗ.

Nhớ, cứ nhớ hoài giọng nói ai nằng nặng

Lưu luyến hoài câu hát lý thương nhau

Một vùng đất với lòng người ngay thẳng

Tình thủy chung mộc mạc đến vô cùng.

Em vẫn mong về lại quê anh

Ngắm thành phố đang vươn mình trước biển

Để cùng anh nghe câu hò xao xuyến

Đêm Sông Hàn huyền diệu ánh trăng nghiêng

Đêm Sông Hàn huyền diệu sáng lung linh.

Vẫn mong ngày em trở về Đà Nẵng

Để cùng anh đi thăm khắp phố phường

Những con đường rộng mở thênh thang

Quê hương mình sao mà yêu đến thế

Nhớ những chiếc cầu đã nối bao khát vọng

Những công trình vươn tới tầm cao

Một thành phố đang bừng lên sức trẻ

Đà Nẵng ơi , huyền thoại mới bắt đầu

Em vẫn mong về lại quê anh

Ngắm thành phố đang vươn mình trước biển

Để cùng anh nghe câu hò xao xuyến

Đêm Sông Hàn huyền diệu ánh trăng nghiêng

Đêm Sông Hàn huyền diệu sáng lung linh.

Tác giả của Đà Nẵng tình người - nhạc sĩ Đình Thậm vừa ra mắt công chúng ca khúc mới Huyền diệu sông Hàn, phỏng thơ Đỗ Quý Doãn.
Ca khúc Huyền diệu sông Hàn (lúc đầu có tên Đà Nẵng người tình) được nhạc sĩ Đình Thậm hoàn chỉnh vào cuối năm 2012, đầu năm 2013, qua sự thể hiện của ca sĩ Thanh Thanh Hiền, Quang Hào và chính tác giả. Ông kỳ vọng đây là món quà ý nghĩa tiếp tục dành tặng Đà Nẵng sau 12 năm ghi dấu ấn trong lòng công chúng với Đà Nẵng tình người.
Với Đình Thậm, mỗi ca khúc được viết ra đều là những giây phút ông thăng hoa, nồng cháy nhất với tình người, tình đời. Ảnh: THANH TÂN
“Không phải lời tới đâu, nhạc bâu tới đó…”
Nhạc sĩ Văn Dung - Chủ tịch Hội Âm nhạc Hà Nội, tác giả Những bông hoa trong vườn Bác - khi nghe Huyền diệu sông Hàn đã thốt lên rằng “không phải lời tới đâu, nhạc bâu tới đó…” (như không ít ca khúc vẫn hiện hành), qua Đình Thậm, Huyền diệu sông Hàn không còn là thơ nữa, nó thực sự trở thành tác phẩm âm nhạc độc lập của chính Đình Thậm.
Nhạc sĩ Đình Thậm nói rằng, chỉ với hai tiếng đồng hồ, ông có thể làm ra một bài nhạc trên nền thơ có sẵn, và với những người nghe không khó tính thì hoàn toàn nghe được. Nhưng để làm ra một tác phẩm âm nhạc thực sự có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa thơ và nhạc thì rất khó. Thơ là cái ngẫu hứng, khi người nhạc sĩ muốn ca ngợi vùng đất này, con người này…, nhưng họ chưa khái quát được, chợt gặp một tứ thơ nói điều bấy lâu mình ấp ủ thì sẽ hòa nhập. “Phải hòa nhập để biến câu thơ thành tâm sự của chính mình mới mong có sáng tác của riêng mình được”, nhạc sĩ Đình Thậm nói.
Cũng theo tác giả của Đà Nẵng tình người, có một bài thơ hay không hẳn sẽ có một bản nhạc hay, người nhạc sĩ sáng tạo phải biết gạn lọc những ý thơ tinh túy nhất. Như nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu nếu “tham” cả bài Biển của Xuân Quỳnh thì không thể có Thuyền và biển hay đến thế. Bằng sự tinh tế, sự nhạy cảm của người nhạc sĩ, Phan Huỳnh Điểu chỉ vận dụng khổ cuối của Biển để biến bài thơ thành khúc tình ca bất hủ. Cũng như Hoàng Hiệp và nhiều nhạc sĩ tài năng khác, không ai có thể có một tác phẩm âm nhạc hay, nếu cứ buộc âm nhạc phải “chạy theo” toàn bộ lời thơ có sẵn.
Với Huyền diệu sông Hàn, nếu Đình Thậm bê nguyên bài thơ của Đỗ Quý Doãn thì hẳn âm nhạc sẽ có những đoạn bị hỏng hoàn toàn. Theo ông, khi lấy được ý thơ hay rồi, phải xây dựng nền nhạc khúc chiết, mạch lạc và phải tuân thủ nghiêm ngặt kết cấu của âm nhạc, của giai điệu, nhạc lý, sau đó mới đưa lời vào, những câu chữ không hợp nhất định phải bị loại ra, hoặc được diễn đạt lại, nhất định không thể gò nhạc theo lời. Như cấu trúc đoạn 2 củaHuyền diệu sông Hàn, được bắt đầu bằng chữ “nhớ” thì giai điệu phải đi lên, chứ không ngang hay đi xuống: “Cứ nhớ hoài giọng nói nghe nằng nặng/ Lưu luyến hoài câu hát lý thương nhau…”, còn nếu nhớ “những năm tháng chiến tranh/ Thời khốc liệt đã lùi vào quá khứ” (Đỗ Quý Doãn) thì giai điệu sẽ bị kéo xuống. Vậy là, trong nỗi nhớ ngổn ngang của thi sĩ, người nhạc sĩ phải gạn lọc lại để ca khúc có thể vút lên, lay động lòng người.
Trừ nhạc trẻ, theo Đình Thậm, viết ca khúc về quê hương, tình đất, tình người phải dựa vào dân ca. Đưa dân ca vào ca khúc là cả sự kỳ công, đòi hỏi sự am hiểu tường tận âm vực dân ca các vùng, miền. Không cẩn thận, “chỉ cần lớ một chút có thể ra dân ca miền Bắc, lớ một chút có thể thành dân ca Nghệ Tĩnh, Huế, Quảng Bình, lớ thêm chút nữa có thể lẫn lộn với dân ca miền sông nước…”, nhạc sĩ Đình Thậm dẫn giải.
Và nếu Đà Nẵng tình người khiến người nghe bảng lảng câu dân ca, điệu lý nào đó ở khu vực Nam Trung Bộ thì đếnHuyền diệu sông Hàn, tác giả có chủ ý ngay từ đầu, ông lấy chất liệu lý tang tích dân ca Khu 5 làm nền nhạc của ca khúc. Cái tài của Đình Thậm ở chỗ, trên nền dân ca thấm đượm ý vị quê kiểng ấy, vẫn bật lên sức sống của thành phố trẻ đang trỗi dậy từng ngày: “Những con đường rộng mở thênh thang/ Những chiếc cầu nối bao khát vọng/ Những công trình vươn tới những tầm cao/ Đà Nẵng ơi, huyền thoại mới bắt đầu…”.
Mỗi ca khúc là một câu chuyện
Đình Thậm hiện là tác giả của hàng trăm ca khúc; riêng sáng tác về Đà Nẵng, nhẩm tính sơ sơ cũng trên dưới 40. Sáng tác nhiều nhưng không có nghĩa “cứ đụng đâu viết đó”, Đình Thậm chỉ viết nhạc khi cảm xúc đã chín và điều đặc biệt, với ông mỗi nhạc phẩm là một câu chuyện rất cụ thể, với những rung động rất thật. Đó có thể là câu chuyện gắn với người bạn thơ, là phút lắng lòng khi bắt gặp khoảnh khắc xúc động của một nhạc sĩ ngồi trước biển quê hương, khi chia sẻ tâm sự cùng một người bạn trên đỉnh Bà Nà, khi hóa thân vào câu chuyện của cô gái Hải Phòng có người tình ở Đà Nẵng…
Bài thơ Nhớ Đà Nẵng của Đỗ Quý Doãn được một người bạn gửi nhờ Đình Thậm phổ nhạc cách đây đã 5-6 năm, nhưng phải đến thời điểm cuối năm 2012, đầu năm 2013, trong khoảng 10 ngày, trong niềm lưu luyến trước sự ra đi của một người thầy, người anh, người bạn thì Huyền diệu sông Hàn ra đời. Huyền diệu sông Hàn là Đà Nẵng với những gì đẹp nhất trong nỗi nhớ, trong tâm khảm của người đi, của người luôn hướng về thành phố biển: “Cứ nhớ hoài giọng nói nghe nằng nặng/ Lưu luyến hoài câu hát lý thương nhau/ Một vùng đất với lòng người ngay thẳng/ Tình thủy chung mộc mạc đến vô cùng”…
Nhạc sĩ - NSƯT Đình Thậm tên thật là Nguyễn Đình Thậm, sinh năm 1958, quê gốc Quảng Ngãi, là Hội viên Hội Nhạc sĩ Việt Nam; hiện là Giám đốc Nhà hát Trưng Vương - Trưởng đoàn Ca múa nhạc Đà Nẵng. Ca khúc được yêu mến: Chỉ còn biển thôi, Miền Trung quê mẹ, Đà Nẵng tình người, Đà Nẵng mộng mơ… Một số giải thưởng: Huy chương vàng Biển hát 1993; Bằng khen Thủ tướng Chính phủ năm 1996; Giải thưởng Hội Nhạc sĩ Việt Nam 1998; Giải thưởng ca khúc viết cho thiếu nhi thành phố Hồ Chí Minh 2010… cùng nhiều giải thưởng, bằng khen của Bộ VH-TT&DL cũng như của thành phố Đà Nẵng.
THANH TÂN

Đọc tiếp…

Tử vi tuổi Đinh Tỵ năm 2013

05:40 |

Tử vi tuổi Đinh Tỵ năm 2013. Những điều cần biết về vận mệnh người tuổi Tỵ năm Quý Tỵ 2013 và trọn đời.
Tử vi tuổi Tỵ năm Quý Tỵ 2013:

Bản chất
Một con rắn có thể xuất hiện thật lạnh lẽo và trơn trượt, nhưng bạn đừng để mình bị đánh lừa, vì người tuổi Tỵ gây ấn tượng, bí ẩn, khôn ngoan, hấp dẫn và khá lãng mạn. Người sinh năm Tỵ có khả năng đưa mọi thứ trở về trạng thái tĩnh, nhờ đó, gieo rắc sự tĩnh lặng qua chuyển động đầy gợi cảm, khiến người khác thấy lúng túng và bị quyến rũ.

 Vì thế, quan trọng là phải lưu ý đến người tuổi Tỵ, và không bao giờ đặt niềm tin tuyệt đối vào họ bởi vì họ có thể nhanh chóng phản lại bạn.
Nếu bạn sinh vào những năm dưới đây thì năm tuổi của bạn là năm Tỵ.
Năm Tỵ: 1917, 1929, 1941, 1953, 1965, 1977, 1989, 2001
Sức Khỏe
Stress là một khó khăn lớn đối với vài con vật trong mười hai con giáp, bao gồm cả con Rắn. Người tuổi Tỵ dễ bị rơi vào căng thẳng khi cuộc sống của họ không theo đúng thứ tự. Họ thích một cuộc sống bình yên, họ chọn sự yên tĩnh chứ không chọn sự náo nhiệt và thích loại công việc dễ xử lý hơn là loại công việc bận rộn.
Sự nghiệp
Người tuổi Tỵ có thái độ thụ động khiến họ dễ bị lầm tưởng là kẻ lười nhác, nhưng sự thật không phải vậy. Những người sinh năm Tỵ rất giàu tính sáng tạo và làm việc chăm chỉ vô cùng. Họ đặc biệt giỏi về giải quyết vấn đề và tự hạn định thời gian cho mình rất chặt chẽ. Họ cũng có thể trở nên quyến rũ và mê hoặc để thu hút mọi người quanh họ.
Tình duyên
Những người tuổi Tỵ là người chịu trách nhiệm trong các mối quan hệ và họ sẽ là người quyết định xem có nên tiếp tục mối quan hệ đó hay không. Một khi đã lựa chọn được người bạn đời, họ sẽ không ngại công khai điều đó.
Người bạn đời của họ sẽ giống như một phần thưởng mà họ giành được sau bao lâu mong ước, họ trở nên ghen tuông và thậm chí là bị ám ảnh khi họ bảo vệ người ấy. Quan trọng là không bao giờ được phản bội người tuổi Tỵ, vì một con rắn bị phản bội sẽ trả thù rất ghê gớm.
Hạp tuổi
Tuổi Tỵ hạp với tuổi Dậu tuổi Sửu và tuổi Thân.

Xem bói, tử vi tết Quý Tỵ 2013 tuổi Đinh Tỵ 1977

Chọn người xông đất, ngày giờ xuất hành, hướng xuất hành, ngày giờ khai trương, mở cửa cho tuổi Đinh Tỵ 1977.
Biện giải: 

Tết Nguyên đán là dịp lễ quan trọng nhất trong văn hóa của người Việt. Khi Tết đến xuân về, mọi người thường tiến hành nhiều công việc như cúng gia tiên, trừ tịch, khai xuân, xông đất, mừng tuổi, khai trương,... hầu cầu mong một năm mới với nhiều sức khỏe, hạnh phúc, của cải dồi dào. Chính vì lẽ đó, việc lựa chọn người xông đất, ngày giờ xuất hành, hướng xuất hành, ngày giờ khai trương, mở cửa trở nên hết sức quan trọng trong tín ngưỡng người Việt. 

1. Chọn người xông đất:

Tục lệ xông đất đã có lâu đời ở Việt Nam. Ngay sau thời khắc giao thừa, bất cứ người nào bước từ ngoài vào nhà với lời chúc năm mới được coi là đã xông đất cho gia chủ. Cho nên cứ cuối năm, mọi người cố ý tìm xem những người trong bà con hay láng giềng có tính vui vẻ, linh hoạt, đạo đức và thành công để nhờ sang thăm, hầu cho mọi việc trong năm của chủ nhà cũng được trôi chảy thông suốt.

Gia chủ sinh năm Đinh Tỵ, nên chọn người xông đất theo hướng dẫn sau:

- Tuổi xông đất tốt nhất: 1932 (Nhâm Thân); 1992 (Nhâm Thân); 

- Tuổi xông đất tương đối tốt: 1932 (Nhâm Thân); 1937 (Đinh Sửu); 1944 (Giáp Thân); 1945 (Ất Dậu); 1949 (Kỷ Sửu); 1956 (Bính Thân); 1957 (Đinh Dậu); 1968 (Mậu Thân); 1969 (Kỷ Dậu); 1980 (Canh Thân); 1985 (Ất Sửu); 1992 (Nhâm Thân); 1997 (Đinh Sửu); 2004 (Giáp Thân); 2005 (Ất Dậu); 2009 (Kỷ Sửu); 

- Tuổi tuyệt đối kỵ xông đất: 1935 (Ất Hợi); 1947 (Đinh Hợi); 1959 (Kỷ Hợi); 1971 (Tân Hợi); 1983 (Quý Hợi); 1995 (Ất Hợi); 2007 (Đinh Hợi); 

- Đặc biệt kỵ nhất các tuổi: 1971 (Tân Hợi); 1983 (Quý Hợi); 

- Các tuổi còn lại xông đất cũng được, không tốt cũng không xấu.
2. Chọn ngày giờ xuất hành, ngày giờ khai trương mở hàng:

Xuất hành là lần đi ra khỏi nhà đầu tiên trong năm, thường được thực hiện vào ngày tốt đầu tiên của năm mới để đi tìm may mắn cho bản thân và gia đình. Trước khi xuất hành, người ta phải chọn ngày Hoàng đạo, giờ Hoàng đạo và các phương hướng tốt để mong gặp được các quý thần, tài thần, hỉ thần... 
Mùng 1 Tết (Ngày Đinh Mùi 10/2/2013):
Là ngày: Hoàng Đạo (Ngọc Đường)
Tiết: Lập xuân - Trực: Chấp (Bình)
Bảo nhật (can sinh chi - đại cát); ;
Cát tinh: Thiên đức;Tam hợp;
Hung tinh: Đại hao;Tử khí;Quan phù;Hoả tai;
Giờ hoàng đạo: Tuất (19 - 21h); Hợi (21 - 23h); Dần (3 - 5h); Mão (5 - 7h); Tỵ (9 - 11h); Thân (15 - 17h);

Mùng 2 Tết (Ngày Mậu Thân 11/2/2013):
Là ngày: Hắc Đạo (Thiên Lao)
Tiết: Lập xuân - Trực: Phá (Hung)
Bảo nhật (can sinh chi - đại cát); ;
Cát tinh: Thiên giải;Thiên quí;Lộc mã;Giải thần;
Hung tinh:
Giờ hoàng đạo: Tý (23 - 1h); Sửu (1 - 3h); Thìn (7 - 9h); Tỵ (9 - 11h); Mùi (13 - 15h); Tuất (19 - 21h);

Mùng 3 Tết (Ngày Kỷ Dậu 12/2/2013):
Là ngày: Hắc Đạo (Huyền Vũ)
Tiết: Lập xuân - Trực: Nguy (Hung)
Bảo nhật (can sinh chi - đại cát); Can chi xung mệnh tháng (hung); ;
Cát tinh: Thiên thành;
Hung tinh: Địa hoả;
Giờ hoàng đạo: Dần (3 - 5h); Mão (5 - 7h); Ngọ (11 - 13h); Mùi (13 - 15h); Dậu (17 - 19h); Tý (23 - 1h);

Mùng 4 Tết (Ngày Canh Tuất 13/2/2013):
Là ngày: Hoàng Đạo (Tư Mệnh)
Tiết: Lập xuân - Trực: Thành (Cát)
Thoa nhật (chi sinh can - tiểu cát); ;
Cát tinh: Nguyệt đức;
Hung tinh: Nguyệt phá;
Giờ hoàng đạo: Thìn (7 - 9h); Tỵ (9 - 11h); Thân (15 - 17h); Dậu (17 - 19h); Hợi (21 - 23h); Dần (3 - 5h);

Mùng 5 Tết (Ngày Tân Hợi 14/2/2013):
Là ngày: Hắc Đạo (Câu Trần)
Tiết: Lập xuân - Trực: Thu (Bình)
Bảo nhật (can sinh chi - đại cát); ; Nguyệt Kỵ;
Cát tinh: Thiên hỷ;
Hung tinh: Thổ cấm;Cô thần;Trùng phục;
Giờ hoàng đạo: Ngọ (11 - 13h); Mùi (13 - 15h); Tuất (19 - 21h); Hợi (21 - 23h); Sửu (1 - 3h); Thìn (7 - 9h); 
Nên chọn các ngày Hoàng Đạo, tránh ngày Hắc Đạo. Thứ nữa nên chọn các ngày có Trực Cát, tránh Trực Hung, chọn ngày Bảo Nhật, tránh ngày Nguyệt Kỵ, Phạt Nhật,... Tiếp đó xét đến các cát tinh, hung tinh. Nên chọn ngày nào có nhiều sao tốt, ít sao xấu chiếu. Đặc biệt lưu ý cặp sao Trùng Phục, Trùng Tang rất xấu. Sau khi cân nhắc tổng thể các yếu tố ta có thể tìm được ngày xuất hành tốt nhất có thể được (lưu ý không thể có ngày tuyệt đối tốt, chỉ nên chọn ngày tốt nhất trong khả năng có thể thôi).

Sau khi chọn ngày ta chọn tiếp đến giờ tốt. Giờ tốt là các giờ Hoàng Đạo theo ngày tương ứng ở trên.

Tương tự như việc chọn ngày xuất hành, đầu Xuân, nhằm vào ngày tốt, giờ tốt, người có chức tước thì khai ấn, học trò khai bút, nhà nông khai canh, người buôn bán thì khai trương, mở hàng, hầu mong công việc tiến triển thuận lợi trong suốt cả năm. Việc chọn giờ khai trương mở hàng cũng tương tự như việc chọn ngày xuất hành ở trên.

3. Chọn hướng xuất hành:

Để chọn hướng xuất hành, cần tìm hướng có Hỷ Thần hoặc Tài Thần, tránh Hạc Thần. Ba loại thần sát chỉ phương hướng đó thay đổi hướng theo ngày can chi cả năm.

Nếu xuất hành vào ngày mùng 1 Tết, nên xuất hành theo hướng Đông (Tài Thần) hoặc hướng Nam (Hỷ Thần). Vào ngày này Hạc Thần ở trên trời nên không cần quan tâm.

Nếu xuất hành vào ngày mùng 2 Tết, nên xuất hành theo hướng Bắc (Tài Thần) hoặc hướng Đông Nam (Hỷ Thần). Vào ngày này Hạc Thần ở trên trời nên không cần quan tâm.

Nếu xuất hành vào ngày mùng 3 Tết, nên xuất hành theo hướng Nam (Tài Thần). Hướng Đông Bắc được Hỷ Thần đóng là tốt nhưng cũng là hướng có Hạc Thần (xấu), nên tốt xấu trung hòa chỉ là bình thường.

Nếu xuất hành vào ngày mùng 4 Tết, nên xuất hành theo hướng Tây Nam (Tài Thần) hoặc hướng Tây Bắc (Hỷ Thần). Tránh hướng Đông Bắc (Hạc Thần) là hướng xấu.

Nếu xuất hành vào ngày mùng 5 Tết, nên xuất hành theo hướng Tây Nam (Tài Thần) hoặc hướng Tây Nam (Hỷ Thần). Tránh hướng Đông Bắc (Hạc Thần) là hướng xấu.

Đọc tiếp…